CÂU LẠC BỘ VIOLET

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Thầy Trần Anh Huy - 0906.883.817)
  • (Thầy Phùng Duy Thành
    0909.760.427)
  • (Thầy Hà Công Chính)
  • (Cô Trần Thị Thanh Hảo)
  • (Thầy Nguyễn Tất Thu)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Gioithieusachthang11.flv Luong_Thi_Trang_Toan_6_Dau_hieu_chia_het_cho_2_cho_5.flv Z5493430669717_63fa0a5282af7c4578c2c6cf6f13378e.jpg Bannna_vinh_cuu.jpg Vinh_cuu_hatv.jpg Ngu_ngon_nhe_be_cum.flv 3c82b8ad8d6822367b79.jpg SGK_8.jpg SGK_7.jpg Z5106995012465_d61dbf2d8b55b9d21fc44ded2a6fded2.jpg 20231215_144834.jpg Z4920124901851_d3bf1e4b5ec018ed6e3504170f7beb71.jpg Z4920124898913_857273d682938f9ba481d016cf538943.jpg Z4920124891401_f655caa520e7250e88004f8a46c8787c.jpg 8_cau_do_vui_tre_con_hai_nao_khong_tuong_Ban_co_dam_thu_Kiem_tra_thong_minh_IQ.flv Z4838635103109_379ec43e140de6cf4035e685cb3c057e.jpg Z4838635140223_5cd7bbb0b9c3f689893b07f1b316dc16.jpg Z4838635098817_3e90bc0851f869920b7f653c13c5b079.jpg

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ Violet Đồng Nai.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    VIẾT

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Nga
    Ngày gửi: 22h:24' 30-11-2024
    Dung lượng: 652.8 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    VIẾT:
    VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH
    MỘT TÁC PHẨM THƠ

    TRÒ CHƠI AI NHANH HƠN.

    BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
    Quê hương là chùm khế ngọt
    Cho con trèo hái mỗi ngày
    Quê hương là đường đi học
    Con về rợp bướm vàng bay
    Quê hương là con diều biếc
    Tuổi thơ con thả trên đồng
    Quê hương là con đò nhỏ
    Êm đềm khua nước ven sông

    QUÊ HƯƠNG

    BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?

    LƯỢM

    BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
    Lặng rồi cả tiếng con ve,
    Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
    Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
    Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
    Lời ru có gió mùa thu,
    Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
    Những ngôi sao thức ngoài kia,
    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
    Đêm nay con ngủ giấc tròn,
    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    MẸ

    BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?

    • Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
    Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
    Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
    Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin
    Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
    “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
    Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
    Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

    NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC

    BÀI THƠ GÌ ĐÂY NHỈ ?
    • Anh đội viên nhìn Bác
    Càng nhìn lại càng thương
    Người Cha mái tóc bạc
    Đốt lửa cho anh nằm.

    Rồi Bác đi dém chăn
    Từng người từng người một
    Sợ cháu mình giật thột
    Bác nhón chân nhẹ nhàng.

    ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ

    HÌNH THÀNH
    KIẾN THỨC

    - Em hiểu viết một bài văn phân tích một tác phẩm thơ
    là làm gì?
    - Theo em, để viết được một bài văn phân tích một tác
    phẩm thơ, người viết cần phải làm gì?

    I. Định hướng
    1. Khái niệm
    - Phân tích một tác phẩm thơ là kiểu bài nghị luận
    văn học mà trong đó, người viết dùng lí lẽ và bằng
    chứng để làm rõ một số đặc điểm về nội dung và
    nghệ thuật của tác phẩm.

    + Đọc kĩ bài thơ được phân tích, chú ý đặc điểm thể loại, tác giả,
    bối cảnh ra đời (nếu cần thiết) của tác phẩm.
    + Phân tích nội dung và các yếu tố hình thức nổi bật của bài thơ.
    Chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung; từ đó làm rõ giá trị
    của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác
    phẩm.
    + Suy nghĩ, nhận xét về ý nghĩa, giá trị và sự tác động của tác phẩm
    đối với người đọc cũng như cá nhân em.

    DÀN BÀI
    Mở bài Giới thiệu khái quát về đề tài và giá trị của bài thơ
    Thân bài 1. Nêu bối cảnh và sự kiện tạo ra nguồn cảm xúc cho tác giả viết bài thơ.
    2. Chủ đề (cảm xúc chủ đạo) của bài thơ.
    3. Phân tích các yếu tố hình thức và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung bài thơ.
    + Thể thơ và đặc điểm vần, nhịp của thể thơ.
    + Giọng điệu chủ đạo của bài thơ.
    + Từ ngữ, hình ảnh được sử dụng trong bài thơ.
    + Những biện pháp tu từ nào đã được sử dụng
    4. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
    5. Liên hệ , mở rộng
    So sánh với những bài thơ viết về cùng đề tài để làm rõ sự độc đáo của bài thơ
    Kết bài

    Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc đã trình
    bày.

    2. THỰC HÀNH

    PHIẾU LẬP DÀN Ý
    MỞ BÀI
    - Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học trung đại
    Việt Nam. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Thơ
    ông luôn giàu cảm xúc với thiên nhiên, với quê hương và con người.
    - Giới thiệu bài thơ: Bài thơ Khóc Dương Khuê lúc đầu có tên chữ Hán là
    Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng Thư, sau được chính nhà thơ
    dịch ra chữ Nôm. Bài thơ được sáng tác khi Nguyễn Khuyến nghe tin người
    bạn thân là Dương Khuê qua đời.
    - Ý kiến chung về bài thơ: Bài thơ là tiếng khóc bạn đầy xót xa, cảm động

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    Đây là bài thơ khóc bạn rất cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ
    khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng
    khoa với Nguyễn Khuyến. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to. Từ bạn đồng
    khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ
    khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài
    văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy
    lệ, có 38 câu thơ.Mở đầu bài thơ là một tiếng than, tiếng nấc đau đớn:
    “Bác Dương thôi đã thôi rồi,

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    + Một sự thảng thốt xót thương cất lên, tưởng như bất ngờ bị đánh rơi mất
    một cái gì vô cùng quý báu. Nhóm từ "thôi đã thôi rồi" thay cho khái niệm
    "đã mất", "đã chết", "đã qua đời" V.V… một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi
    nỗi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Hai chữ "nước mây" chỉ hai sự vật
    cách xa. Nước chảy, mây trôi, xa nhau vời vợi, nghìn trùng cách trở, có mấy
    khi gặp nhau. Song, lòng nước chảy, dù đi đâu về đâu vẫn ôm ấp bóng mây
    trôi. Hình ảnh "nước mây" được liên kết với các từ láy "man mác", "ngậm
    ngùi" diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương
    đôi đường, buồn đau, nặng trĩu.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    + Chữ "bác" trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc. Nhà thơ
    luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật dù
    rằng Nguyễn Khuyến còn hơn Dương Khuê đến 5 tuổi.
    Phần thứ hai gồm 24 câu thơ, tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc
    với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào
    nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn
    ấy là “duyên trời” tác hợp nên:
    “Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
    Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
    Kính yêu từ trước đến sau,
    Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời”.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    + Các từ ngữ “sớm hôm”, “cùng nhau”, “từ trước đến sau” thể hiện một tình
    bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn
    của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn
    thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải
    là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và
    đáng nhớ như vậy.
    + Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi “dặm khách” chan hoà với thiên
    nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: “Tiếng suối nghe róc rách lưng đè”
    Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn,
    giọng hát:
    “Có khi từng gác cheo leo,
    Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang”.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    Cầm xoang nghĩa là cung đàn, giọng hát, “Từng gác cheo leo” như còn gợi
    lại cảm giác ngây ngất trên lầu cao của đôi bạn tri âm sành điệu. Nguyễn
    Khuyến và Dương Khuê rất sành nghệ thuật hát ả đào, đã sáng tác nhiều hài
    hát nói nổi tiếng.
    + Người xưa có nói: “Tửu phùng tri kỉ thiên bôi thiểu - Thi hội tri âm bán cú
    đa”. Bạn tri âm trong hội thơ (chỉ nghe qua) nửa câu thơ đã là nhiều không
    cần dài lời cũng đủ hiểu bạn. Nguyễn Khuyến nhớ lại những lần cùng bạn
    uống rượu làm thơ:
    “Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
    Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
    Có khi hàn soạn câu văn,
    Biết bao đông bích điển phần trước sau”.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    Chén quỳnh tương là chén ngọc, một cách nói sang trọng. "Rượu ngon cùng
    nhắp" và hình ảnh "âm ắp bầu xuân" như còn giữ lại một tình bạn trong
    hương vị nồng nàn, hứng khởi. Nhắc tới chuyện bàn soạn văn chương thì đầy
    ắp những sách vở, điển cố. Hai chữ "đông bích, điển phần" biểu lộ niểm tự
    hào kín đáo của những nhà nho học rộng tài cao.
    + Nguyễn Khuyến đã sử dụng cách diễn đạt trùng điệp hai nhóm từ ngữ:
    “Cũng có lúc” và “có khi” đan chéo vào nhau, bốn lần xuất hiện trên tám
    dòng thơ, vừa để liệt kê gợi nhớ, vừa tạo nên âm hưởng quấn quýt, thiết tha.
    Những kỉ niệm ấy vô cùng sâu sắc, đẹp đẽ về tình bạn, không bao giờ có thể
    quên được.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn, nhưng Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng
    vẫn “kính yêu từ trước đến sau”, không bao giờ thay lòng đổi dạ:
    “Bác già tôi cũng già rồi,
    Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là”.
    Chữ “rồi” vần với ba chữ “thôi” liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi
    mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không
    muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao!
    + Đoạn thơ tiếp theo làm tái hiện một khung cảnh cảm động của đôi bạn già
    sau nhiều năm xa cách mới gặp lại nhau:
    “Muốn đi lại, tuổi già thêm nhác,
    Trước ba năm gặp bác một lần,
    Cấm tay hỏi hết xa gần,
    Mừng rằng bác vẩn tinh thần chưa can”.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    “Tinh thần chưa can” ý nói sức khoẻ vẫn bình thường, tinh thần vẫn sáng
    suốt. + Thế mà bạn đột ngột qua đời. Đoạn thơ sau đây thể hiện rất đúng, rất
    sâu sắc tâm lí và tình cảm người già khí được tin bạn mất:
    “Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
    Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
    Làm sao bác vội về ngay?
    Chợt nghe tôi bổng chân tay rụng rời!”.
    Giọng thơ kể lể, tự tình. Trong lời than thấm đầy lệ. Hình ảnh “chân tay rụng
    rời” cực tả nỗi đau đớn, bàng hoàng không kể xiết.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    - Mười hai câu thơ cuối, Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là tự khóc mình,
    giọng thơ ngày một thêm não nùng, thê thiết. Ông trách bạn "vội đi xa" để
    mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:
    “Ai chẳng biết chán đời là phải,
    Sao vội vàng đã mải lên tiên;
    Rượu ngon không có bạn hiền,
    Không mua không phải không tiền không mua”.
    + Sau chữ "chẳng" xuất hiện liên tiếp 5 chữ "không" gợi tả cái trống vắng, cái
    cô đơn của nhà thơ, của cảnh già. Kẻ đi xa và người ở lại cùng chung nỗi
    niềm tâm sự "chán đời là phải". Nhà thơ kín đáo bộc lộ thái độ đối với thời
    cuộc trước sau không thay đổi.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    + Bạn mất đột ngột, nỗi thương tiếc, đau xót làm tê tái cả lòng. Sống trong cô
    đơn ngày thêm bơ vơ sầu tủi. Cuộc đời mất hết ý nghĩa: không muốn uống
    rượu, không thiết ngâm thơ, gian nhà và tâm hồn trở nên trống vắng, trơ trọi.
    Còn đâu nữa bạn tri âm tri kỉ?
    “Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
    Viết đưa ai, ai biết mà đưa
    Giường kia treo cũng hững hờ,
    Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”.
    Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ - Bá Nha
    và Trần Phổn - Từ Trĩ... Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để
    cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ
    bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động
    diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình.

    THÂN BÀI
    1. Nêu chủ đề và phân tích chủ đề
    + Bốn câu cuối bài thơ như một tiếng nấc đau đớn. Tuổi già vốn ít lệ (hạt lệ
    như sương), nên chỉ biết khóc ở trong lòng. Thương bạn gắn liền với bao nỗi
    nhớ. Khóc bạn chuyển thành nỗi niềm như cam chịu số phận bi thương. Chỉ
    cầu mong cho linh hồn bạn thanh thản "lên tiên":
    “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
    Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương,
    Tuổi già hạt lệ như sương,
    Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”.
    Tuy nhà thơ nói rằng “hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” nhưng bài thơ
    khép lại trong rưng rưng nghẹn ngào, chứa chan nước mắt của nhà thơ lẫn
    bạn đọc yêu thơ.

    THÂN BÀI
     2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
    - “Khóc Dương Khuê” được viết bằng thể thơ song thất lục bát, lời khóc bạn
    càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở
    than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn
    sống, rất cảm động Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện
    nghệ thuật vừa bình di, vừa điêu luyện. Thể thơ rất phù hợp để diễn tả tâm
    trạng của nhân vật trữ tình: nỗi nhớ về những kỉ niệm cùng bạn thuở hàn vi
    tới lúc đứng trên đỉnh cao danh vọng; tâm trạng xót xa, hụt hẫng, mất mát
    không gì có thể thay thế được của thi nhân khi mất đi người bạn tri âm, tri kỉ.

    THÂN BÀI
     2. Phân tích nghệ thuật theo bài thơ để làm sáng tỏ chủ đề:
    - Phép liệt kê, trùng điệp được vận dụng để gây ấn tượng về một tình bạn lâu
    bền, sâu sắc, thuỷ chung và vô cùng thắm thiết. Người Việt chúng ta, nhất là
    các cụ già lúc khóc người thân quá cố thường kể lể gợi nhắc mọi kỉ niệm ngụ
    ý thương tiếc. Có lúc ta cảm thấy người sống đang đối thoại và tâm sự với
    người đã khuất. Bài thơ đã kể lại đủ hết các giai đoạn của tình bạn, lời kể nào
    cũng chân thành, đằm thắm. Nguyễn Khuyến vừa kể lể, vừa nức nở. Nghệ
    thuật nói giảm nói tránh, các điển cố điển tích, … cũng góp phần làm tiếng
    khóc bạn của nhà thơ thêm sâu sắc, thấm thía.

    THÂN BÀI
     3. Đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
    - Về nghệ thuật, “Khóc Dương Khuê” là một bài thơ song thất lục bát đặc
    sắc. Hình ảnh thơ chân thực, sống động, giàu sức gợi; ngôn từ độc đáo với
    điển tích điển cố hàm súc, cô đọng. Nghệ thuật sử dụng phép điệp, liệt kê, nói
    giảm nói tránh làm nổi bật tiếng khóc thương người bạn hiền của nhà thơ.
    - Về nội dung: Qua bài thơ, tác giả đã ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp
    vượt thời gian đồng thời là nỗi đau xót khi mất đi người bạn hiền.

    THÂN BÀI
     4. Mở rộng- liên hệ: Tình bạn là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của con
    người trong cuộc sống. Bởi thế mà thơ viết về tình bạn xưa nay không hiếm.
    Ngay chính nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có cả một mảng sáng tác về đề tài
    này với gần một trăm bài thơ. Nổi tiếng nhất là bài “Bạn đến chơi nhà”.
    Riêng viết về Dương Khuê- người bạn chí thân, Nguyễn Khuyến đã có bốn
    bài thơ chữ Hán. Nhưng xúc động nhất là bài “Khóc Dương Khuê”.

    KẾT BÀI
    Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về yếu tố nội dung hoặc
    nghệ thuật đặc sắc đã trình bày.
    “Khóc Dương Khuê” là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của
    Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca
    dân tộc. Bài thơ bồi đắp cho người đọc chúng ta tình cảm bạn hữu chân
    thành, sâu sắc và cảm động.

    LUYỆN TẬP: Em hãy phân tích bài thơ sau
    MẸ VÀ QUẢ- NGUYỄN KHOA ĐIỀM
    Những mùa quả mẹ tôi hái được
    Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
    Những mùa quả lặn rồi lại mọc
    Như mặt trời, khi như mặt trăng.
    Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
    Còn những bí và bầu thì lớn xuống
    Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
    Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
    Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
    Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
    Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
    Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?

    c. Hướng dẫn viết bài
    - Dựa vào dàn ý đã xây dựng để luyện tập kĩ năng viết.
    - Yêu cầu chung khi viết bài:
    + Phần Mở bài và phần Kết bài: mỗi phần viết thành một đoạn
    văn hoàn chỉnh.
    + Phần Thân bài:
    ++ Lựa chọn kiểu tổ chức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, song
    song, phối hợp) cho phù hợp với từng ý triển khai trong Thân bài.

    c. Hướng dẫn viết bài
    ++ Khi viết, luôn chú ý liên kết các câu trong đoạn và liên kết các
    đoạn trong bài.
    ++ Chú ý kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử dụng lí lẽ và bằng chứng
    trong khi triển khai các ý của phần Thân bài để đảm bảo tính
    thuyết phục của một bài văn nghị luận.
    ++ Chú ý làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
    của bài thơ, không sa vào tóm tắt nội dung.

    Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
    Nội dung kiểm tra
    Mở bài

    Đã giới thiệu được tác giả, bài thơ; hoàn cảnh ra  
    đời (nếu có).
    Thân bài + Đã chỉ rõ chủ đề và phân tích chủ đề bài thơ.  
     
    + Đã phân tích, làm rõ một số nét đặc sắc về  
    nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu
    từ, ...)
    + Đã nêu được những suy nghĩ, cảm xúc của  
    bản thân về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.

    Đạt

    Chưa
    đạt
     
     
     

     

    Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn phân tích một bài thơ
    Nội dung kiểm tra
    Kết bài

    Khẳng định được ý nghĩa và giá trị nghệ thuật  
    của bài thơ.
    Kĩ năng, Sắp xếp các ý triển khai và dẫn chứng hợp lí.
     
    trình bày Bố cục chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
     
    diễn đạt Đảm bảo chính tả, dùng từ và diễn đạt.
     
    Sử dụng các từ ngữ, câu văn để liên kết các ý.  

    Đạt

    Chưa
    đạt
     
     
     
     
     

    PHIẾU KIỂM TRA, CHỈNH SỬA BÀI VIẾT:
    Nội dung lỗi cần sửa

    Sửa lỗi

    Phát hiện và sửa ý và trình tự Trình tự triển khai ý
    triển khai ý
    Các ý cần bổ sung

     

    Phát hiện sửa lỗi về ý

    Thiếu ý

     

    Sắp xếp lại ý lộn xộn

     

    Sửa lại các ý lạc đề

     

    Sửa lại các ý tản mạn

     

    Lỗi dùng từ

     

    Lỗi viết câu

     

    Lỗi chính tả

     

    Phát hiện sửa lỗi diễn đạt
    Lỗi chính tả

     

    d. Kiểm tra và chỉnh sửa
    - Đọc lại bài viết, kiểm tra các ý đã đầy đủ và đúng trình tự được
    nêu ở dàn ý chưa.
    - Phát hiện sửa lỗi về viết:
    + Lỗi về ý: Thiếu ý (ý sơ sài, chưa nêu hết được những điều cần
    viết), ý lộn xộn (các ý không được sắp xếp theo một trình tự hợp
    lí), lạc ý (nêu các ý không liên quan đến nội dung bài yêu cầu), ý
    tản mạn (nêu các ý không tập trung vào nội dung chính của bài
    viết).
    + Lỗi về diễn đạt (dùng từ, viết câu), chính tả.

    2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
     ? So sánh là gì?
    ? Trong phân tích thơ, ta thường gặp những kiểu so sánh
    nào?
    ? Mục đích của so sánh trong phân tích thơ là gì?
    ? Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm giống và một
    điểm khác nhau giữa hai bài thơ “Sông núi nước Nam” và
    văn bản “Nước Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
    Nguyễn Trãi).

    2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
    a. Cách thức
    - So sánh là chỉ ra sự giống nhau, khác nhau của hai hay nhiều tác phẩm,
    làm nổi bật sự độc đáo, sáng tạo của nhà thơ. Về nguyên tắc, có thể so sánh
    điểm giống và khác nhau ở tất cả các cấp độ, từ nội dung (đề tài, chủ đề,
    cảm hứng, tư tưởng...) đến hình thức tác phẩm (nhan đề, bố cục, chi tiết,
    vần, nhịp, hình ảnh, các thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ...); có thể so sánh tác
    phẩm của hai tác giả nhưng cũng có thể so sánh hai tác phẩm của cùng một
    tác giả.

    2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: So sánh trong phân tích thơ
    a. Cách thức
     - Trong phân tích thơ, để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được
    phân tích, người viết thường so sánh với các tác phẩm cùng đề tài, chủ đề...
    Ví dụ, khi phân tích bài Sông núi nước Nam, có thể dẫn ra các tác phẩm
    cùng viết về tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc như Hịch tướng sĩ
    (Trần Quốc Tuấn), Phò giá về kinh (Trần Quang Khải), Tỏ lòng (Phạm Ngũ
    Lão), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) ... cũng như nhiều bài thơ hiện đại
    sau này. Hoặc phân tích những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, nhiều
    người đã liên hệ với thơ Đường, thơ Tổng, so sánh để thấy rõ: Thơ của
    Người “rất Đường mà lại không Đường một tí nào” (Hoàng Trung Thông).

    b. Bài tập
    Viết đoạn văn so sánh, nêu lên một điểm
    giống và một điểm khác nhau giữa hai bài
    thơ “Sông núi nước Nam” và văn bản “Nước
    Đại Việt ta” (Trích Bình Ngô đại cáo –
    Nguyễn Trãi).

    Bài tham khảo:
    Nếu "Sông núi nước Nam" chỉ khẳng định nước có chủ nghĩa thì có vua
    Nam ở thì ở bài "Nước Đại Việt ta", Nguyễn Trãi lại chứng minh nước nhà
    có độc lập dân tộc bằng việc khẳng định rõ nước ta có quốc hiệu, có nền văn
    hiến lâu đời, có bề dạy lịch sử riêng của dân tộc, lãnh thổ riêng, có chủ
    quyền, chế độ và phong tục riêng. Qua đây, ta cũng đã thấy được văn bản
    "Nước Đại Việt ta" có học thuyết về quốc gia hơn "Sông núi nước Nam".
    Đồng thời, người đọc cũng thấy được giọng nói hào hùng, lời văn nhịp
    nhàng, ngân vang của tác giả.

    Bài tham khảo:
    …Văn bản có đoạn đầu bài là một sự đối lập từ khái quát cho đến cụ thể,
    lại còn giàu chứng cớ lịch sử khiến cho ai ai là con dân đất Việt cũng có cảm
    xúc tự hào. Có lẽ, cả 2 văn bản đều rất hay và thể hiện chủ quyền nước ta,
    cũng đều được coi là bản tuyên ngôn độc lập của nước ta nhưng "Nước Đại
    Việt ta" lại có những điều tiến bộ, phát triển hơn với tính toàn diện, sâu sắc
    của từng lời thơ trong nó. Phải chăng, càng về sau thì con người ta lại càng
    phát triển, thông minh và tốt đẹp hơn, điều đó đã được chứng minh qua việc
    ta so sánh "Sông núi nước Nam" và "Nước Đại Việt ta".

    VẬN DỤNG

    Những mùa quả mẹ tôi hái được
    Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
    Những mùa quả lặn rồi lại mọc
    Như mặt trời, khi như mặt trăng.
    Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
    Còn những bí và bầu thì lớn xuống
    Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
    Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
    Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
    Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
    Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
    Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?

    HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
    - Học bài, nắm chắc cách viết bài văn phân tích một tác phẩm
    thơ.
    - Lưu trữ lại bài viết, bảng kiểm đánh giá vào hồ sơ cá nhân.
    - GV giao phiếu học tập và yêu cầu HS chuẩn bị bài sau:
    Nói và nghe: Nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một tác
    phẩm thơ.

    HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
    Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
    thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
    1. Mục đích của bài nói

    ...

    2. Đối tượng người nghe

    ...

    3. Phạm vi trình bày

    ...

    4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:

    ...

    - Mục đích bài nói là gì?
    - Nội dung chính của bài nói là gì? Có những lý lẽ, dẫn chứng
    nào để làm sáng tỏ?

    HOÀN THÀNH PHIẾU CHUẨN BỊ BÀI NÓI THEO MẪU SAU:
    Trình bày ý kiến của cá nhân về sự giống nhau và khác nhau giữa bài
    thơ Sông núi nước Nam và văn bản Nước Đại Việt ta.
    4. Tìm ý cho bài nói: Trả lời các câu hỏi sau:

    ...

    - Hai văn bản có ý nghĩa, vị trí như thế nào đối với lịch sử dân
    tộc nói chung và văn học nói riêng?
    5. Dàn ý bài nói:
    Mở đầu:.......
    Triển khai:......
    Kết luận:.........

    ...
     
    Gửi ý kiến