Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ Violet Đồng Nai.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Mộ Cự Thạch Hàng Gòn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: PGS TS Phạm Đức Mạnh, TS Nguyễn Hồng Ân
Người gửi: Phạm Thị Mai Duyên
Ngày gửi: 15h:13' 23-03-2026
Dung lượng: 37.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: PGS TS Phạm Đức Mạnh, TS Nguyễn Hồng Ân
Người gửi: Phạm Thị Mai Duyên
Ngày gửi: 15h:13' 23-03-2026
Dung lượng: 37.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH
HÀNG GÒN
PGS. TS Phạm Đức Mạnh
TS. Nguyễn Hồng Ân
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH
HÀNG GÒN
Nhà xuất bản Đồng Nai
Lôøi giôùi thieäu
Đồng Nai - vùng đất trù phú mệnh danh dòng chảy huyết mạch của
cả “miền Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng” từng chứng kiến sự
hình thành, nảy nở, giao động của cả một cộng đồng người cổ quần tụ
đông đảo, vùng đất từng chứa đựng trong lòng nó cả một phức thể di
tích - di vật khảo cổ học quan trọng và xuyên suốt từ buổi đầu của thời
đại đồng sang sơ kỳ thời đại sắt. Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy
hôm nay trên bản đồ khảo cổ học cổ xưa của vùng đất này cho thấy các
thế hệ tiền nhân đã khởi đầu quả cảm và sáng tạo, bằng lao động khai
phá, chiếm lĩnh, thích ứng với tự nhiên và xây dựng nên một trung tâm
văn hóa kim khí rực rỡ “vang bóng một thời” - một nền văn minh đặc
sắc mà ngày nay chúng ta quen gọi là văn minh sông Đồng Nai.
Bằng những cố gắng điền dã và nghiên cứu của các nhà khảo cổ
học và bảo tàng học từ nhiều thập kỷ nay ở nhiều di sản mang tên làng,
tên đất, tên sông, tên suối của Đồng Nai như: Phước Tân, Bình Đa, Gò
Me, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Suối Linh, Suối Chồn, Núi Gốm,
Dầu Giây, Phú Hòa, Hàng Gòn, Bến Gỗ... đã trở nên quen thuộc và
thân thích với khoa học và với mỗi chúng ta. Vì từ nơi đó, ngôn ngữ
khảo cổ học và bảo tàng học đã mang từ ngàn xưa về cho hôm nay một
vóc dáng cụ thể và hài hòa của đất nước - con người Đồng Nai thời
tiền sử và sơ sử, với những biểu tượng văn hóa bản địa “không tiền
khoáng hậu” như những làng làm nông và chài lưới, những công xưởng
chế tạo trang sức (Đồi Phòng Không) và đàn đá tiền sử (Lithophone
préhistorique) (Bình Đa), những kho tàng chứa vũ khí đồng thau kiểu
“qua đồng” và hình tượng con “trút” đồng (Manis Javanica) (Long
Giao), những “cánh đồng chum gốm” mang hình hài những nghĩa trang
5
cộng đồng dày đặc thời sơ sắt và đặc biệt, cả quần thể kiến trúc đá lớn
độc đáo đã được phát hiện chính trong vùng từng là trung tâm sinh tụ
và tinh thần Đồng Nai thời sơ sắt - Mộ Cự thạch Hàng Gòn - di tích
quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm
2015 của Thủ tướng Chính phủ).
Tính đến nay, tỉnh Đồng Nai có 68 di tích được xếp hạng, trong
đó có 02 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt là: Mộ Cự thạch
Hàng Gòn và Vườn Quốc gia Cát Tiên, 29 di tích xếp hạng cấp Quốc
gia, 37 di tích cấp tỉnh và 1.500 di tích phổ thông được kiểm kê, hơn
400 ngôi nhà cổ, 40 mộ cổ, gần 100 địa điểm danh thắng có giá trị.
Ngoài ra, tỉnh còn sở hữu 3 hiện vật, nhóm hiện vật là bảo vật Quốc gia,
nhiều cổ vật có giá trị độc đáo tiêu biểu, nhiều di sản văn hóa thuộc 7
loại hình văn hóa phi vật thể.
Di tích Quốc gia đặc biệt Mộ Cự thạch Hàng Gòn được khám phá
và khai quật đầu tiên bởi viên kỹ sư cầu đường Pháp Jean Bouchot
từ gần một thế kỷ trước, từng được ghi nhận trong “Danh mục
những công trình lịch sử của xứ Nam Kỳ xưa” (Liste des monuments
historiques de l'ancienne Cochinchine) (năm 1930) và thu hút sự quan
tâm đặc biệt của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới (Henri Parmentier,
George Coedès, Van Stein Callenfels, Jean-Yves Claeys, Paul Lévy,
Ovlov. Jansé, Louis Bezacier, E. Garpardone, H.H.E. Loofs, Edmond
Saurin, Louis Malleret, Henri Fontaine, Peter Bellwood, Eiji Nitta...).
Người ta đã cho rằng đây là loại hình kiến trúc đá lớn kiểu hầm mộ
ghép phiến cùng các hàng trụ đá và liên hệ mộ Cự thạch Hàng Gòn với
các di sản cự thạch khắp Châu lục (bán đảo Deckker Transjordanie,
Assam, bắc Miến Điện, đảo Java, bắc Trung Hoa, Ấn Độ và
Tissamharama (Sri Lanca) và cả châu Úc... Nhưng nhiều nhận thức
lớn, đặc biệt về vị thế, niên đại và chủ nhân đích thực của cả quần thể
cự thạch độc đáo này vẫn còn là những “câu đố lịch sử” đầy bí ẩn.
Gần bảy thập kỷ sau khám phá mộ Cự thạch Hàng Gòn, từ cuối
năm 1995, công nhân xe ủi Xí nghiệp Đá lại phát hiện các tấm đan hoa
cương nằm gần hầm mộ xưa và di tích được các nhà khảo cổ và bảo
6
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
tàng khai quật khẩn cấp, khám phá thêm nhiều dữ liệu quý báu bằng đá,
gốm, đồng và tập hợp mẫu than tro giám định bằng phương pháp phân
tích carbone 14 để định tuổi tuyệt đối cho di tích: 2.670 đến 2.220 ± 40
cách ngày nay. Các nhà khai quật tin rằng di tồn cự thạch vừa khám phá
liên kết chặt chẽ với quần thể kiến trúc mộ Cự thạch Hàng Gòn đã biết
và đó chính là nơi tập kết nguyên liệu và là dạng “công xưởng chế tác
đá lớn” (Megalithic workshop-site) lần đầu tiên được biết đến ở Việt
Nam và Đông Nam Á.
Từ những năm 2006-2010, để củng cố thêm dữ liệu khoa học cho
việc lập dự án trùng tu, tôn tạo di tích quốc gia Mộ Cự thạch Hàng Gòn
theo Luật Di sản văn hóa và xây dựng hồ sơ khoa học Di tích quốc gia
đặc biệt, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng phối hợp với các nhà khoa
học đã tiến hành điều tra, thám sát và khai quật hàng ngàn mét vuông
trong cả khu vực rộng khoảng 4-5ha xung quanh di tích Mộ Cự thạch
Hàng Gòn, đã thu thêm nhiều di vật đá (2 bùa và 71 mảnh vỡ), gốm
(7155 mảnh), đồng thau (2 tù và cùng 10 mũi tên), đặc biệt thu thập
thêm các hệ thống mẫu than định tuổi carbone 14 cho cả trầm tích đất
đỏ xung quanh nó có khung niên đại rất rộng: Từ 26.600 ± 300 đến
1.570 ± 55 cách ngày nay); 35 mẫu đá phân tích thạch học, 3 mẫu đồng
và 22 mẫu gốm phân tích hóa - quang phổ và cả các hệ thống 18 mẫu
thổ nhưỡng để giám định bào tử phấn hoa vùng địa hình bazan trẻ chứa
di tồn cự thạch và các di sản văn hóa hữu quan. Đây là những dữ liệu
khoa học quý báu, hữu ích cho công cuộc tìm kiếm sự bí ẩn của cả quần
thể di tích cự thạch này.
Quyển sách Di tích quốc gia đặc biệt Mộ Cự thạch Hàng Gòn là
chuyên khảo giới thiệu đầy đủ thông tin quan trọng nhất và các kết quả
nghiên cứu mới nhất về di sản quý báu này đến Nhân dân trong nước
và bạn bè quốc tế, với bố cục gồm ba phần:
Phần I, các tác giả giới thiệu đôi nét về điều kiện tự nhiên và nhân
văn tiểu vùng đất đỏ bazan phong hóa Đồng Nai đặt trong khung cảnh
chung của môi trường sinh thái toàn miền Đông Nam Bộ, với các hệ
thống dẫn liệu khảo cổ liên quan đến hoạt động cư trú và sáng tạo văn
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
7
hóa của các tập thể người cổ từ buổi đầu đá cũ đến những làng cổ làm
nông, săn bắn, hái lượm lâm, thủy sản và hoạt động thủ công, những
nghĩa địa an táng người chết trong mộ đất, mộ chum vò gốm, các kho
tàng chôn đồ đồng trong miệng núi lửa thời kim khí - những cứ liệu “sử
đất” liên hệ đến nền cảnh văn hóa - kỹ thuật của chính quần thể kiến
trúc Mộ Cự thạch Hàng Gòn thời sơ sắt.
Phần II, là nội dung chính yếu của công trình, giới thiệu chi tiết về
lịch sử khám phá, khai quật và nghiên cứu quần thể kiến trúc Mộ Cự
thạch Hàng Gòn qua các giai đoạn từ năm 1927-2015, đặc biệt trình
bày các di tích liên quan trực tiếp đến hầm mộ Cự thạch Hàng Gòn và
công xưởng chế tác Cự thạch Hàng Gòn, với các kết quả giám định
thạch học, thành phần chất liệu đá, gốm, đồng thau và hệ thống niên
đại carbone 14, với nhiều minh họa, thống kê chi tiết và hệ thống về các
hiện tượng ghi nhận chính trong hiện trường khảo cổ.
Phần III và kết luận, là những nhận định về đặc trưng văn hóa, về
vị trí lịch sử của quần thể kiến trúc Mộ Cự thạch Hàng Gòn đặt trong
mối quan hệ chặt chẽ với các di tích thời đại kim khí ở “miệt cao” Nam
Bộ nói riêng và trong bình diện văn hóa cự thạch hiện biết ở khu vực
và châu Á. Các tác giả cố gắng phác họa bức tranh văn hóa, xã hội đặc
sắc của cả miền Đông Nam Bộ mà trong đó, quần thể kiến trúc Mộ Cự
thạch Hàng Gòn được nhận thức như “một trung tâm tinh thần Đồng
Nai” thời kỳ “tiền Nhà nước” và cũng là công trình “có một không hai”
khi đối sánh với các truyền thống tạo dựng cự thạch ở Việt Nam và
châu Á trong thời đại kim khí.
“Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa (vật thể và phi vật
thể), cùng các giá trị văn hóa khác, tái hiện, tạo ra nhiều sản phẩm văn
hóa, sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng cao mang đậm bản sắc
Đồng Nai, phù hợp với xu thế thời đại. Tiếp tục giữ vững, phát huy hào
khí Đồng Nai và không ngừng lan tỏa tinh thần hào khí Đồng Nai trong
mọi phương diện của đời sống” là mục tiêu mà nghị quyết số 12-NQ/
TU ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa
XI về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Đồng Nai trở
8
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
thành nguồn lực, động lực quan trọng cho phát triển toàn diện và bền
vững đã đề ra.
Chúng tôi kỳ vọng quyển sách Di tích quốc gia đặc biệt Mộ Cự
thạch Hàng Gòn đến với bạn đọc gần xa như một sản phẩm văn hóa
mang đậm bản sắc Đồng Nai, là nguồn tư liệu khoa học - văn hóa có
những thông tin bổ ích, những tư liệu lý thú và thiết thực, có thể làm
tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu, tài liệu học tập cho học sinh,
sinh viên, giúp cho các thế hệ trẻ hiểu biết nhiều hơn về hào khí Đồng
Nai, về truyền thống lao động, sáng tạo và thông minh của ông cha trên
mảnh đất này, bồi đắp tình yêu quê hương đất nước và vận dụng trong
các hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn
hóa dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Xin trân trọng giới thiệu quyển sách đến với đọc giả!
Đồng Nai, tháng 5 năm 2024
LÊ THỊ NGỌC LOAN
(Tỉnh ủy viên,
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai)
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
9
Phần thứ I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NHÂN VĂN VÙNG
ĐẤT ĐỎ BAZAN Ở ĐỒNG NAI
Đồng Nai là tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực
có cơ sở hạ tầng phát triển và thuộc vùng kinh tế năng động nhất Việt
Nam. Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng,
Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và
tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng Nai
có diện tích 5.897km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước; dân số khoảng
3,2 triệu người (Cục Thống kê Đồng Nai, 2021), chiếm khoảng 3,2%
dân số cả nước. Tính đến năm 2021, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành
chính cấp huyện gồm: Thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh
và các huyện Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ,
Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, 170 đơn vị cấp xã.
Thành phố Biên Hòa là trung tâm hành chính của tỉnh. Đồng Nai là tỉnh
đa dân tộc với 35 dân tộc như: Kinh, Hoa, Chơro, Stiêng, Mạ, Kơ Ho,
Chăm, Khơmer, Tày, Nùng... trong đó người Kinh chiếm 92,8%. Các
dân tộc sống tại chỗ như: Chơro, Mạ, Stiêng, Kơ Ho là chủ nhân vùng
đất Đông Nam Bộ từ rất lâu đời.
Với nền địa hình nghiêng thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
có đồi núi nhấp nhô (cao nhất là núi Chứa Chan 858m/mực nước biển)
xen kẽ các thung lũng bằng đất đỏ bazan phía Bắc, đất phù sa cổ chính
giữa và đất phù sa mới phía Tây Nam, toàn tỉnh nằm trong lưu vực
sông Đồng Nai và các chi lưu lớn như: Sông La Ngà, sông Mã Đà,
sông Buông... có nhiều danh thắng sơn thủy hữu tình nổi tiếng từ Định
Quán, Cát Tiên đến Trị An, Bửu Long... Trong các bản đồ phân vùng
địa mạo và cổ địa lý chung cho cả miền Đông Nam Bộ, tiểu vùng đất
đỏ bazan Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ nằm trọn trong vùng cao
nguyên đồi núi và đồng bằng bóc mòn cao, phân bố ở cực nam phụ
miền cao nguyên bình sơn Lâm Viên (cao độ 800-100m), với lớp vỏ
phong hóa 10-30m và lớp thổ nhưỡng đỏ, vàng nâu, tím đỏ nối tiếp bề
mặt đồng bằng bóc mòn lượn sóng, có mạng lưới thủy văn dạng tỏa
tia, có tiềm năng về rừng, chứa các nguồn liệu đá phun trào, cát kết,
phiến sừng, đá quý (saphir) và bán quý (opal, calcédoan) và các nguồn
sét núi mà con người có thể khai thác để chế tạo công cụ, vũ khí và đồ
gốm trong quá khứ.
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
11
Ngoài các bề mặt địa hình núi lửa, ở đây còn ghi nhận các bề mặt
bóc mòn san bằng từ các cao độ 300-250m đến 50-40m cắt vào bazan
Xuân Lộc tuổi QII; các bậc thềm sông cổ từ bậc III (70-50m) ở phía
Nam Xuân Lộc tuổi QI và bậc II (35-25m) tuổi QII-III, đến bậc I (1510m) dọc đôi bờ sông suối hiện tại (Hà Quang Hải, 1996). Với nền khí
hậu khá ổn định, có chế độ phân hóa hai mùa (mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 140-160 ngày =
90% tổng lượng mưa), giàu nhiệt lượng (tổng nhiệt độ toàn năm 9.50010.000ºC) và ẩm độ, không có bão tố và sương muối, các thảm rừng
nhiệt đới - á nhiệt đới hiện còn bảo tồn thế giới động, thực vật giàu
lượng loại, đa sinh cảnh (chim, thú, cá, tôm, nhuyễn thể...). Nền cảnh
môi trường sinh thái vùng đất đỏ bazan phong hóa Long Khánh, Xuân
Lộc, Cẩm Mỹ và cả Đồng Nai nói chung chính là nơi “đất lành chim
đậu” có những điều kiện thiết yếu và thuận lợi cho cuộc sống định cư,
phát triển kinh tế, sáng tạo văn hóa, hội tụ văn minh của các cộng đồng
người ở mọi thời kỳ lịch sử.
Trong quá khứ gần, đây là miền đất “toàn là những đám rừng
hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có chỗ rộng hơn nghìn dặm” (Lê
Quý Đôn, 1776), là vùng cư trú lâu đời của các sắc dân “sơn cước”
(montagnards) Chơro và Kơ Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (loại
hình Bahnar theo H.Fontaine, 1972; loại hình Mạ theo J.Boubet,
1964). Khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn
mở đất xứ Biên Hòa hướng về Nam năm 1698 “lấy đất Nông Nại đặt
làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh
Trấn Biên” (Trịnh Hoài Đức, 1820), vùng Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ thuộc tổng Tân Chánh (Phước Long) còn là vùng hiểm địa
“gò đồi trùng điệp, rừng rú liền dăng, cây cao lớn chọc trời, rậm rạp
vài trăm dặm” (Đại Nam nhất thống chí), nằm bên vùng bình địa “Lộc
Động” (Plaine des Cerfs) Biên Hòa - Đồng Nai (Malleret, L. 1963).
Trong quá khứ nguyên thủy, chính trên các bậc thềm cao nguyên
dung nham đất đỏ bazan, các bề mặt phù sa cổ và bãi bồi thung lũng
dọc theo nhiều dòng chảy đã tích tụ nhiều vết tích liên quan đến hoạt
12
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
động của người xưa. Đó là các sưu tập công cụ bazan (rìu tay, rìu hình
hạnh nhân, công cụ hình rìu, công cụ chặt thô, mũi nhọn, nạo, hạch đá,
hòn ném, vuốt thú hóa thạch...) do các nhà địa chất, khảo cổ học khám
phá ở Hàng Gòn 6 và ở Dầu Giây 2 (Saurin, E. 1973), ở Núi Đất, Suối
Đá (Gia Liêu), Cẩm Tiêm, Bình Lộc, Bình Xuân (Phạm Đức Mạnh,
2004)... (H1).
Dù chưa ghi nhận “tại chỗ” (in situ) trong địa tầng khảo cổ học và
chưa thấy kèm theo các di tồn cổ nhân, cổ sinh tương ứng, nhiều tiêu
bản Xuân Lộc, đặc biệt rìu tay và công cụ hình rìu được nhiều nhà khoa
học Việt Nam và nước ngoài phân tích loại hình và phương thức chế
tác để thừa nhận là sản phẩm đích thực của những “bầy người vượn tối
cổ” tụ cư trên miền đồi gò bán bình nguyên đất đỏ bazan Đồng Nai,
gần như đồng thời với những “bầy người đứng thẳng” (Homo Erectus)
từng được các nhà nhân chủng học mệnh danh là “Mông Cổ phương
Nam” (Mongoloide méridionale) cư trú trong hang động đá vôi vùng
Lạng Sơn và ở miền châu thổ ngã ba sông Mã - sông Chu (Thanh Hóa).
Từ đây, trang sử mở đầu tiến trình chinh phục Đồng Nai ghi nhận sự
thành hình truyền thống chế tác công cụ từ đá cuội bazan mà những
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
13
hoạt động đầu tiên của “xã hội người xác định Xuân Lộc tối cổ” và
truyền thống gia công cuội của họ tiếp tục được duy trì trong các cộng
đồng người cổ Đồng Nai nhiều vạn năm sau.
Sang thời đại Kim khí, tiểu vùng Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ
trở thành một địa bàn phát sinh và mật tập nhiều làng làm nông, làng
- xưởng, các nghĩa địa, kho tàng có tầm quan trọng bậc nhất của xã hội
cổ Đồng Nai trong suốt hai thiên kỷ kế cận Công lịch. Di tích tiền sử
được khảo cứu tốt nhất vùng này là Cầu Sắt - một làng cổ tọa lạc trên
gò đất đỏ bazan ven suối Săng Dốc được phát hiện và khai quật năm
1975-1976 và là một trong các di chỉ cư trú có mật độ tàng trữ công cụ
sản xuất đá và mảnh gốm dày đặc nhất Việt Nam với địa tầng dày 75cm
trong diện đào 320m² đã thu được 788 đồ đá (294 rìu - cuốc, 76 đục, 54
dao gặt, 60 mũi nhọn, 269 bàn mài, nhiều hòn ghè, hòn kê, chày nghiền
hạt, mảnh vòng tay) và hàng vạn mảnh gốm, xác thực sự hiện diện nền
nông nghiệp nương rẫy cổ sơ trong miền đất đỏ bazan phì nhiêu thưở
ấy, bên cạnh các nghề thủ công chế tác công cụ, trang sức đá, nghề làm
gốm bằng bàn xoay và kinh tế săn bắn hái lượm khai thác sản vật đồi
rừng nhiệt đới Đồng Nai xưa. Di tích Cầu Sắt, cùng với Suối Linh vùng
ngã ba Sông Bé - Đồng Nai, được coi là hai làng cổ tiêu biểu cho giai
đoạn khởi đầu của truyền thống văn hóa - kỹ thuật chế tác đá, gốm thời
Kim khí miền Đông Nam Bộ vào thời đoạn giáp ranh hai thiên kỷ III-II
trước Công nguyên.
Ở thời kỳ lịch sử “sau Cầu Sắt”, cư dân Đồng Nai nối tiếp truyền
thống lập làng cư trú trên sườn đồi gò đất đỏ bazan màu mỡ và thoáng
mát ven các dòng chảy. Có những khu vực quần cư lớn mà quy mô
từng “làng cổ” không thua diện tích một làng Việt hiện đại (1-3ha)
nằm xung quanh Mộ Cự thạch Hàng Gòn; ví như, quần thể 7 di chỉ do
E.Saurin phát hiện trong khu Đồn điền cao su Hàng Gòn (quan trọng
nhất là di chỉ Hàng Gòn 1 - Núi Gốm phát hiện 4 khuôn đúc đồng có
niên đại C14 rất xưa: 3.950 ± 250 cách ngày nay) (H2); quần thể di tích
thuộc địa phận Xuân Phú - Xuân Trường - Xuân Bình (Bình Xuân, Đồi
Mít, Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập Thành, Sông Nhạn...) với
niên biểu chung khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II trước Công nguyên.
14
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Trong thời đại sơ kỳ đồ Sắt, bên cạnh các làng cư trú làm nông, săn
bắn, hái lượm cổ truyền, đã xuất hiện các loại hình di tích đặc trưng
vùng Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ với các trầm tích văn hóa bản
xứ đã đưa ra ánh sáng khoa học nhiều di sản quý báu liên quan đến phát
minh kỹ nghệ tiên tiến mang tính thời đại - thuật luyện rèn sắt và ứng
dụng thành quả của tiến bộ kỹ thuật này trong thực tiễn sản xuất, chiến
đấu truyền thống, khởi đầu từ giữa Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Đó là các di chỉ - xưởng đúc đồng rèn sắt - mộ thổ táng truyền thống và
các nghĩa trang chuyên dùng quan tài bằng chum vò gốm chôn người
chết ở Suối Chồn, Dầu Giây, Phú Hòa (C14: 2.590 ± 240, 2.400 ± 140
cách ngày nay), Hàng Gòn 9 (C14: 2.300, 2.190, 2.100 ± 150 cách
ngày nay) chứa đựng các sưu tập di vật nội địa và ngoại nhập giàu có
và phong phú về
lượng loại bằng
đá (rìu - cuốc,
đục, dao gặt, bàn
mài, chày nghiền,
bùa đeo, khuôn
đúc sa thạch,
vòng tay, khuyên
tai hai đầu thú,
hạt chuỗi gia
công tinh xảo từ
nhiều
khoáng
chất), thủy tinh
(vòng
tay,
khuyên tai ba
mấu, hạt chuỗi),
gốm và đất nung
(dọi se sợi, bi,
quả cân, đồ
đựng), đồng (rìu
lưỡi trũng, chậu,
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
15
vòng, lục lạc, lá đồng), sắt (thuổng, liềm, dao, kiếm, vòng và nhẫn),
quý kim (chuỗi vàng, hoa tai đồng mạ vàng), di tồn hữu cơ (xương vụn,
than tro, nhựa, da, sò biển)... (H3-4).
Các “Cánh đồng chum” dày đặc vùng Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ (Suối Chồn, Dầu Giây, Hàng Gòn 9, Phú Hòa) hình thành một
cụm di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa bản địa hội tụ nhờ giao lưu
với nhiều tố chất văn minh ngoại nhập mà nổi nét nhất đến từ văn minh
Sa Huỳnh vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ và văn minh Ấn Độ cổ
từ Tây Phương Thiên Trúc. Cùng với cả cụm di tích độc đáo này, sự có
mặt của kho tàng Long Giao cũng minh định tiến trình giao lưu và hội
nhập văn hóa liên vùng và ghi dấu một “tầm cao” mới của cả miền này
thời sơ kỳ đồ Sắt. Với những di sản bản địa được tìm thấy (rìu - cuốc
đá, gốm thô, thẻ đeo dạng “bùa”, tượng động vật bằng đồng tạo hình
con “trút” (Manis javanica) nặng tới 3,4kg...) (H4), cùng hàng trăm vũ
khí bằng đồng biến cải “tiền mẫu” văn minh Trung Hoa kiểu “qua” (Ko
- Halberts) nhưng lại mang trên mình hoa văn trang trí theo “phong
cách Đông Sơn” Việt cổ (Phạm Đức Mạnh, 1985).
16
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Phát hiện kho tàng Long Giao nằm trong địa bàn quy tụ cụm di
tích tiêu biểu nhất văn minh Đồng Nai thời sơ Sắt - những “cánh đồng
chum” quây quần xung quanh mộ Cự thạch Hàng Gòn mà E.Saurin
(1973) tin chắc về “quan hệ họ hàng giữa chúng” trên những cánh rừng
già nhiệt đới xen cắt nhiều sông suối với tiềm năng lâm sản “cung ứng
vô tận cho đời sống săn bắn và lượm hái tiền sử” (Fontaine, H. 1972)
và những dải đồi gò đất đỏ bazan phong hóa “ở một trong những vùng
đất phì nhiêu nhất Đông Nam Á” (Bellwood, P. 1978) - một vùng đất
có nhiều công cụ sản xuất và khí giới sắt, nhiều đồ trang sức lộng lẫy,
có mộ đá đồ sộ và mộ chum dày đặc, có tượng đồng hình thú quý hiếm,
có vũ khí đồng “kiểu Hoa Hạ” và trống đồng “kiểu Đông Sơn” quyền
uy xứng danh một trung tâm sinh tụ và trung tâm tinh thần một thời
vang bóng của người cổ Đồng Nai. Và, các sưu tập trống đồng Việt cổ
ở Đông Nam Bộ xung quanh mộ Cự thạch Hàng Gòn cũng là những
dấu hiệu đầu tiên về sự hình thành và lớn lên của cơ cấu quyền lực tối
cao, vượt lên trên đội ngũ thủ lĩnh tiểu vùng có trang bị vũ khí kiểu qua
đồng của cộng đồng tộc người bản xứ cũng là những hiện tượng Đồng
Nai trong lịch sử thăng trầm của văn hóa và văn minh Đông Nam Á.
Những dấu tích hoạt động của người Đồng Nai xưa lược ghi trên
chính là hệ thống căn bản dẫn liệu khảo cổ học quan trọng nhất hiện
biết trên tiểu vùng đất đỏ bazan phong hóa Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ trong nền cảnh chung văn hóa Kim khí Đông Nam Bộ. Đó
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
17
cũng chính là các dẫn liệu quan hệ đến cơ sở văn hóa kỹ thuật (Techno
- Cultural basis) hay bức phông văn hóa kỹ thuật (Techno - Cultural
backdrop) của quần thể công trình kiến trúc Cự thạch đặc sắc và “độc
nhất vô nhị” của miền văn hóa này từ tiền sử (H5).
18
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Phần thứ II
CÁC DI TÍCH VĂN HÓA CỰ THẠCH TRÊN VÙNG
ĐẤT ĐỎ LONG KHÁNH, XUÂN LỘC, CẨM MỸ
Các di tích Cự thạch đầu tiên trên miền đất
đỏ bazan Đông Nam Bộ thoạt đầu mang tên
Xuân Lộc, vì khi mới được phát hiện, chúng
nằm trong cương vực Đồn điền Cao su Xuân
Lộc (Société des plantations d'Hévens de Xuân
Lộc), thuộc địa phận xã Xuân Lộc, tổng Bình
Lâm Thượng, tỉnh Biên Hòa, ngày nay thuộc
ấp Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, thành phố Long
Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Chương I.
DI TÍCH CỰ THẠCH HÀNG GÒN I (7A)
1. Phát hiện ban đầu
Đầu năm 1927, trong lúc đang chỉ huy thi công tuyến đường từ
Xuân Lộc đi Bà Rịa (nay là Quốc lộ 56), viên kỹ sư cầu đường người
Pháp Jean Bouchot đã được ông Mercier báo cho biết có các tảng đá
lớn hình thù rất kỳ lạ dựng ven lộ trình này và dường như chúng được
chôn sâu từ lâu đời trong lòng đất đỏ thuộc Đồn điền do ông William
Bazé (cha nuôi của vua Bảo Đại) làm Giám đốc. Cột đá lớn đứng thẳng
dưới tán cây cổ thụ đã từ lâu được cư dân sở tại coi như “một thạch
đài huyền hoặc”, họ kính cẩn gọi là “Ông Đá” (Monsier le Rocher)
và dựng một miếu thờ nhỏ bên cạnh “Ông Đá” về phía Đông. Vốn là
“Thông tín viên” của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO: École
francaise d'Extrême - Orient), Jean Bouchot nhận được ủy nhiệm là
“đại biểu” của tổ chức khoa học này để tiến hành các cuộc khai quật
khẩn cấp ở đây cùng với các nhân công vốn là tội hình do chính viên
Toàn quyền Pháp ở Nam Kỳ khi đó cung ứng.
2. Khai quật
Cuộc khai quật được khởi công từ ngày 14/4-16/5/1927. J.Bouchot
đã cho đào xung quanh “Ông Đá” một hố rộng gần tròn có lòng
MỘ CỰ THẠCH
HÀNG GÒN
PGS. TS Phạm Đức Mạnh
TS. Nguyễn Hồng Ân
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH
HÀNG GÒN
Nhà xuất bản Đồng Nai
Lôøi giôùi thieäu
Đồng Nai - vùng đất trù phú mệnh danh dòng chảy huyết mạch của
cả “miền Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng” từng chứng kiến sự
hình thành, nảy nở, giao động của cả một cộng đồng người cổ quần tụ
đông đảo, vùng đất từng chứa đựng trong lòng nó cả một phức thể di
tích - di vật khảo cổ học quan trọng và xuyên suốt từ buổi đầu của thời
đại đồng sang sơ kỳ thời đại sắt. Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy
hôm nay trên bản đồ khảo cổ học cổ xưa của vùng đất này cho thấy các
thế hệ tiền nhân đã khởi đầu quả cảm và sáng tạo, bằng lao động khai
phá, chiếm lĩnh, thích ứng với tự nhiên và xây dựng nên một trung tâm
văn hóa kim khí rực rỡ “vang bóng một thời” - một nền văn minh đặc
sắc mà ngày nay chúng ta quen gọi là văn minh sông Đồng Nai.
Bằng những cố gắng điền dã và nghiên cứu của các nhà khảo cổ
học và bảo tàng học từ nhiều thập kỷ nay ở nhiều di sản mang tên làng,
tên đất, tên sông, tên suối của Đồng Nai như: Phước Tân, Bình Đa, Gò
Me, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Suối Linh, Suối Chồn, Núi Gốm,
Dầu Giây, Phú Hòa, Hàng Gòn, Bến Gỗ... đã trở nên quen thuộc và
thân thích với khoa học và với mỗi chúng ta. Vì từ nơi đó, ngôn ngữ
khảo cổ học và bảo tàng học đã mang từ ngàn xưa về cho hôm nay một
vóc dáng cụ thể và hài hòa của đất nước - con người Đồng Nai thời
tiền sử và sơ sử, với những biểu tượng văn hóa bản địa “không tiền
khoáng hậu” như những làng làm nông và chài lưới, những công xưởng
chế tạo trang sức (Đồi Phòng Không) và đàn đá tiền sử (Lithophone
préhistorique) (Bình Đa), những kho tàng chứa vũ khí đồng thau kiểu
“qua đồng” và hình tượng con “trút” đồng (Manis Javanica) (Long
Giao), những “cánh đồng chum gốm” mang hình hài những nghĩa trang
5
cộng đồng dày đặc thời sơ sắt và đặc biệt, cả quần thể kiến trúc đá lớn
độc đáo đã được phát hiện chính trong vùng từng là trung tâm sinh tụ
và tinh thần Đồng Nai thời sơ sắt - Mộ Cự thạch Hàng Gòn - di tích
quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm
2015 của Thủ tướng Chính phủ).
Tính đến nay, tỉnh Đồng Nai có 68 di tích được xếp hạng, trong
đó có 02 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt là: Mộ Cự thạch
Hàng Gòn và Vườn Quốc gia Cát Tiên, 29 di tích xếp hạng cấp Quốc
gia, 37 di tích cấp tỉnh và 1.500 di tích phổ thông được kiểm kê, hơn
400 ngôi nhà cổ, 40 mộ cổ, gần 100 địa điểm danh thắng có giá trị.
Ngoài ra, tỉnh còn sở hữu 3 hiện vật, nhóm hiện vật là bảo vật Quốc gia,
nhiều cổ vật có giá trị độc đáo tiêu biểu, nhiều di sản văn hóa thuộc 7
loại hình văn hóa phi vật thể.
Di tích Quốc gia đặc biệt Mộ Cự thạch Hàng Gòn được khám phá
và khai quật đầu tiên bởi viên kỹ sư cầu đường Pháp Jean Bouchot
từ gần một thế kỷ trước, từng được ghi nhận trong “Danh mục
những công trình lịch sử của xứ Nam Kỳ xưa” (Liste des monuments
historiques de l'ancienne Cochinchine) (năm 1930) và thu hút sự quan
tâm đặc biệt của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới (Henri Parmentier,
George Coedès, Van Stein Callenfels, Jean-Yves Claeys, Paul Lévy,
Ovlov. Jansé, Louis Bezacier, E. Garpardone, H.H.E. Loofs, Edmond
Saurin, Louis Malleret, Henri Fontaine, Peter Bellwood, Eiji Nitta...).
Người ta đã cho rằng đây là loại hình kiến trúc đá lớn kiểu hầm mộ
ghép phiến cùng các hàng trụ đá và liên hệ mộ Cự thạch Hàng Gòn với
các di sản cự thạch khắp Châu lục (bán đảo Deckker Transjordanie,
Assam, bắc Miến Điện, đảo Java, bắc Trung Hoa, Ấn Độ và
Tissamharama (Sri Lanca) và cả châu Úc... Nhưng nhiều nhận thức
lớn, đặc biệt về vị thế, niên đại và chủ nhân đích thực của cả quần thể
cự thạch độc đáo này vẫn còn là những “câu đố lịch sử” đầy bí ẩn.
Gần bảy thập kỷ sau khám phá mộ Cự thạch Hàng Gòn, từ cuối
năm 1995, công nhân xe ủi Xí nghiệp Đá lại phát hiện các tấm đan hoa
cương nằm gần hầm mộ xưa và di tích được các nhà khảo cổ và bảo
6
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
tàng khai quật khẩn cấp, khám phá thêm nhiều dữ liệu quý báu bằng đá,
gốm, đồng và tập hợp mẫu than tro giám định bằng phương pháp phân
tích carbone 14 để định tuổi tuyệt đối cho di tích: 2.670 đến 2.220 ± 40
cách ngày nay. Các nhà khai quật tin rằng di tồn cự thạch vừa khám phá
liên kết chặt chẽ với quần thể kiến trúc mộ Cự thạch Hàng Gòn đã biết
và đó chính là nơi tập kết nguyên liệu và là dạng “công xưởng chế tác
đá lớn” (Megalithic workshop-site) lần đầu tiên được biết đến ở Việt
Nam và Đông Nam Á.
Từ những năm 2006-2010, để củng cố thêm dữ liệu khoa học cho
việc lập dự án trùng tu, tôn tạo di tích quốc gia Mộ Cự thạch Hàng Gòn
theo Luật Di sản văn hóa và xây dựng hồ sơ khoa học Di tích quốc gia
đặc biệt, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng phối hợp với các nhà khoa
học đã tiến hành điều tra, thám sát và khai quật hàng ngàn mét vuông
trong cả khu vực rộng khoảng 4-5ha xung quanh di tích Mộ Cự thạch
Hàng Gòn, đã thu thêm nhiều di vật đá (2 bùa và 71 mảnh vỡ), gốm
(7155 mảnh), đồng thau (2 tù và cùng 10 mũi tên), đặc biệt thu thập
thêm các hệ thống mẫu than định tuổi carbone 14 cho cả trầm tích đất
đỏ xung quanh nó có khung niên đại rất rộng: Từ 26.600 ± 300 đến
1.570 ± 55 cách ngày nay); 35 mẫu đá phân tích thạch học, 3 mẫu đồng
và 22 mẫu gốm phân tích hóa - quang phổ và cả các hệ thống 18 mẫu
thổ nhưỡng để giám định bào tử phấn hoa vùng địa hình bazan trẻ chứa
di tồn cự thạch và các di sản văn hóa hữu quan. Đây là những dữ liệu
khoa học quý báu, hữu ích cho công cuộc tìm kiếm sự bí ẩn của cả quần
thể di tích cự thạch này.
Quyển sách Di tích quốc gia đặc biệt Mộ Cự thạch Hàng Gòn là
chuyên khảo giới thiệu đầy đủ thông tin quan trọng nhất và các kết quả
nghiên cứu mới nhất về di sản quý báu này đến Nhân dân trong nước
và bạn bè quốc tế, với bố cục gồm ba phần:
Phần I, các tác giả giới thiệu đôi nét về điều kiện tự nhiên và nhân
văn tiểu vùng đất đỏ bazan phong hóa Đồng Nai đặt trong khung cảnh
chung của môi trường sinh thái toàn miền Đông Nam Bộ, với các hệ
thống dẫn liệu khảo cổ liên quan đến hoạt động cư trú và sáng tạo văn
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
7
hóa của các tập thể người cổ từ buổi đầu đá cũ đến những làng cổ làm
nông, săn bắn, hái lượm lâm, thủy sản và hoạt động thủ công, những
nghĩa địa an táng người chết trong mộ đất, mộ chum vò gốm, các kho
tàng chôn đồ đồng trong miệng núi lửa thời kim khí - những cứ liệu “sử
đất” liên hệ đến nền cảnh văn hóa - kỹ thuật của chính quần thể kiến
trúc Mộ Cự thạch Hàng Gòn thời sơ sắt.
Phần II, là nội dung chính yếu của công trình, giới thiệu chi tiết về
lịch sử khám phá, khai quật và nghiên cứu quần thể kiến trúc Mộ Cự
thạch Hàng Gòn qua các giai đoạn từ năm 1927-2015, đặc biệt trình
bày các di tích liên quan trực tiếp đến hầm mộ Cự thạch Hàng Gòn và
công xưởng chế tác Cự thạch Hàng Gòn, với các kết quả giám định
thạch học, thành phần chất liệu đá, gốm, đồng thau và hệ thống niên
đại carbone 14, với nhiều minh họa, thống kê chi tiết và hệ thống về các
hiện tượng ghi nhận chính trong hiện trường khảo cổ.
Phần III và kết luận, là những nhận định về đặc trưng văn hóa, về
vị trí lịch sử của quần thể kiến trúc Mộ Cự thạch Hàng Gòn đặt trong
mối quan hệ chặt chẽ với các di tích thời đại kim khí ở “miệt cao” Nam
Bộ nói riêng và trong bình diện văn hóa cự thạch hiện biết ở khu vực
và châu Á. Các tác giả cố gắng phác họa bức tranh văn hóa, xã hội đặc
sắc của cả miền Đông Nam Bộ mà trong đó, quần thể kiến trúc Mộ Cự
thạch Hàng Gòn được nhận thức như “một trung tâm tinh thần Đồng
Nai” thời kỳ “tiền Nhà nước” và cũng là công trình “có một không hai”
khi đối sánh với các truyền thống tạo dựng cự thạch ở Việt Nam và
châu Á trong thời đại kim khí.
“Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa (vật thể và phi vật
thể), cùng các giá trị văn hóa khác, tái hiện, tạo ra nhiều sản phẩm văn
hóa, sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng cao mang đậm bản sắc
Đồng Nai, phù hợp với xu thế thời đại. Tiếp tục giữ vững, phát huy hào
khí Đồng Nai và không ngừng lan tỏa tinh thần hào khí Đồng Nai trong
mọi phương diện của đời sống” là mục tiêu mà nghị quyết số 12-NQ/
TU ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa
XI về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Đồng Nai trở
8
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
thành nguồn lực, động lực quan trọng cho phát triển toàn diện và bền
vững đã đề ra.
Chúng tôi kỳ vọng quyển sách Di tích quốc gia đặc biệt Mộ Cự
thạch Hàng Gòn đến với bạn đọc gần xa như một sản phẩm văn hóa
mang đậm bản sắc Đồng Nai, là nguồn tư liệu khoa học - văn hóa có
những thông tin bổ ích, những tư liệu lý thú và thiết thực, có thể làm
tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu, tài liệu học tập cho học sinh,
sinh viên, giúp cho các thế hệ trẻ hiểu biết nhiều hơn về hào khí Đồng
Nai, về truyền thống lao động, sáng tạo và thông minh của ông cha trên
mảnh đất này, bồi đắp tình yêu quê hương đất nước và vận dụng trong
các hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn
hóa dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Xin trân trọng giới thiệu quyển sách đến với đọc giả!
Đồng Nai, tháng 5 năm 2024
LÊ THỊ NGỌC LOAN
(Tỉnh ủy viên,
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai)
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
9
Phần thứ I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NHÂN VĂN VÙNG
ĐẤT ĐỎ BAZAN Ở ĐỒNG NAI
Đồng Nai là tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực
có cơ sở hạ tầng phát triển và thuộc vùng kinh tế năng động nhất Việt
Nam. Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng,
Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và
tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng Nai
có diện tích 5.897km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước; dân số khoảng
3,2 triệu người (Cục Thống kê Đồng Nai, 2021), chiếm khoảng 3,2%
dân số cả nước. Tính đến năm 2021, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành
chính cấp huyện gồm: Thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh
và các huyện Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ,
Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, 170 đơn vị cấp xã.
Thành phố Biên Hòa là trung tâm hành chính của tỉnh. Đồng Nai là tỉnh
đa dân tộc với 35 dân tộc như: Kinh, Hoa, Chơro, Stiêng, Mạ, Kơ Ho,
Chăm, Khơmer, Tày, Nùng... trong đó người Kinh chiếm 92,8%. Các
dân tộc sống tại chỗ như: Chơro, Mạ, Stiêng, Kơ Ho là chủ nhân vùng
đất Đông Nam Bộ từ rất lâu đời.
Với nền địa hình nghiêng thoải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
có đồi núi nhấp nhô (cao nhất là núi Chứa Chan 858m/mực nước biển)
xen kẽ các thung lũng bằng đất đỏ bazan phía Bắc, đất phù sa cổ chính
giữa và đất phù sa mới phía Tây Nam, toàn tỉnh nằm trong lưu vực
sông Đồng Nai và các chi lưu lớn như: Sông La Ngà, sông Mã Đà,
sông Buông... có nhiều danh thắng sơn thủy hữu tình nổi tiếng từ Định
Quán, Cát Tiên đến Trị An, Bửu Long... Trong các bản đồ phân vùng
địa mạo và cổ địa lý chung cho cả miền Đông Nam Bộ, tiểu vùng đất
đỏ bazan Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ nằm trọn trong vùng cao
nguyên đồi núi và đồng bằng bóc mòn cao, phân bố ở cực nam phụ
miền cao nguyên bình sơn Lâm Viên (cao độ 800-100m), với lớp vỏ
phong hóa 10-30m và lớp thổ nhưỡng đỏ, vàng nâu, tím đỏ nối tiếp bề
mặt đồng bằng bóc mòn lượn sóng, có mạng lưới thủy văn dạng tỏa
tia, có tiềm năng về rừng, chứa các nguồn liệu đá phun trào, cát kết,
phiến sừng, đá quý (saphir) và bán quý (opal, calcédoan) và các nguồn
sét núi mà con người có thể khai thác để chế tạo công cụ, vũ khí và đồ
gốm trong quá khứ.
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
11
Ngoài các bề mặt địa hình núi lửa, ở đây còn ghi nhận các bề mặt
bóc mòn san bằng từ các cao độ 300-250m đến 50-40m cắt vào bazan
Xuân Lộc tuổi QII; các bậc thềm sông cổ từ bậc III (70-50m) ở phía
Nam Xuân Lộc tuổi QI và bậc II (35-25m) tuổi QII-III, đến bậc I (1510m) dọc đôi bờ sông suối hiện tại (Hà Quang Hải, 1996). Với nền khí
hậu khá ổn định, có chế độ phân hóa hai mùa (mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 140-160 ngày =
90% tổng lượng mưa), giàu nhiệt lượng (tổng nhiệt độ toàn năm 9.50010.000ºC) và ẩm độ, không có bão tố và sương muối, các thảm rừng
nhiệt đới - á nhiệt đới hiện còn bảo tồn thế giới động, thực vật giàu
lượng loại, đa sinh cảnh (chim, thú, cá, tôm, nhuyễn thể...). Nền cảnh
môi trường sinh thái vùng đất đỏ bazan phong hóa Long Khánh, Xuân
Lộc, Cẩm Mỹ và cả Đồng Nai nói chung chính là nơi “đất lành chim
đậu” có những điều kiện thiết yếu và thuận lợi cho cuộc sống định cư,
phát triển kinh tế, sáng tạo văn hóa, hội tụ văn minh của các cộng đồng
người ở mọi thời kỳ lịch sử.
Trong quá khứ gần, đây là miền đất “toàn là những đám rừng
hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có chỗ rộng hơn nghìn dặm” (Lê
Quý Đôn, 1776), là vùng cư trú lâu đời của các sắc dân “sơn cước”
(montagnards) Chơro và Kơ Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (loại
hình Bahnar theo H.Fontaine, 1972; loại hình Mạ theo J.Boubet,
1964). Khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn
mở đất xứ Biên Hòa hướng về Nam năm 1698 “lấy đất Nông Nại đặt
làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh
Trấn Biên” (Trịnh Hoài Đức, 1820), vùng Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ thuộc tổng Tân Chánh (Phước Long) còn là vùng hiểm địa
“gò đồi trùng điệp, rừng rú liền dăng, cây cao lớn chọc trời, rậm rạp
vài trăm dặm” (Đại Nam nhất thống chí), nằm bên vùng bình địa “Lộc
Động” (Plaine des Cerfs) Biên Hòa - Đồng Nai (Malleret, L. 1963).
Trong quá khứ nguyên thủy, chính trên các bậc thềm cao nguyên
dung nham đất đỏ bazan, các bề mặt phù sa cổ và bãi bồi thung lũng
dọc theo nhiều dòng chảy đã tích tụ nhiều vết tích liên quan đến hoạt
12
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
động của người xưa. Đó là các sưu tập công cụ bazan (rìu tay, rìu hình
hạnh nhân, công cụ hình rìu, công cụ chặt thô, mũi nhọn, nạo, hạch đá,
hòn ném, vuốt thú hóa thạch...) do các nhà địa chất, khảo cổ học khám
phá ở Hàng Gòn 6 và ở Dầu Giây 2 (Saurin, E. 1973), ở Núi Đất, Suối
Đá (Gia Liêu), Cẩm Tiêm, Bình Lộc, Bình Xuân (Phạm Đức Mạnh,
2004)... (H1).
Dù chưa ghi nhận “tại chỗ” (in situ) trong địa tầng khảo cổ học và
chưa thấy kèm theo các di tồn cổ nhân, cổ sinh tương ứng, nhiều tiêu
bản Xuân Lộc, đặc biệt rìu tay và công cụ hình rìu được nhiều nhà khoa
học Việt Nam và nước ngoài phân tích loại hình và phương thức chế
tác để thừa nhận là sản phẩm đích thực của những “bầy người vượn tối
cổ” tụ cư trên miền đồi gò bán bình nguyên đất đỏ bazan Đồng Nai,
gần như đồng thời với những “bầy người đứng thẳng” (Homo Erectus)
từng được các nhà nhân chủng học mệnh danh là “Mông Cổ phương
Nam” (Mongoloide méridionale) cư trú trong hang động đá vôi vùng
Lạng Sơn và ở miền châu thổ ngã ba sông Mã - sông Chu (Thanh Hóa).
Từ đây, trang sử mở đầu tiến trình chinh phục Đồng Nai ghi nhận sự
thành hình truyền thống chế tác công cụ từ đá cuội bazan mà những
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
13
hoạt động đầu tiên của “xã hội người xác định Xuân Lộc tối cổ” và
truyền thống gia công cuội của họ tiếp tục được duy trì trong các cộng
đồng người cổ Đồng Nai nhiều vạn năm sau.
Sang thời đại Kim khí, tiểu vùng Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ
trở thành một địa bàn phát sinh và mật tập nhiều làng làm nông, làng
- xưởng, các nghĩa địa, kho tàng có tầm quan trọng bậc nhất của xã hội
cổ Đồng Nai trong suốt hai thiên kỷ kế cận Công lịch. Di tích tiền sử
được khảo cứu tốt nhất vùng này là Cầu Sắt - một làng cổ tọa lạc trên
gò đất đỏ bazan ven suối Săng Dốc được phát hiện và khai quật năm
1975-1976 và là một trong các di chỉ cư trú có mật độ tàng trữ công cụ
sản xuất đá và mảnh gốm dày đặc nhất Việt Nam với địa tầng dày 75cm
trong diện đào 320m² đã thu được 788 đồ đá (294 rìu - cuốc, 76 đục, 54
dao gặt, 60 mũi nhọn, 269 bàn mài, nhiều hòn ghè, hòn kê, chày nghiền
hạt, mảnh vòng tay) và hàng vạn mảnh gốm, xác thực sự hiện diện nền
nông nghiệp nương rẫy cổ sơ trong miền đất đỏ bazan phì nhiêu thưở
ấy, bên cạnh các nghề thủ công chế tác công cụ, trang sức đá, nghề làm
gốm bằng bàn xoay và kinh tế săn bắn hái lượm khai thác sản vật đồi
rừng nhiệt đới Đồng Nai xưa. Di tích Cầu Sắt, cùng với Suối Linh vùng
ngã ba Sông Bé - Đồng Nai, được coi là hai làng cổ tiêu biểu cho giai
đoạn khởi đầu của truyền thống văn hóa - kỹ thuật chế tác đá, gốm thời
Kim khí miền Đông Nam Bộ vào thời đoạn giáp ranh hai thiên kỷ III-II
trước Công nguyên.
Ở thời kỳ lịch sử “sau Cầu Sắt”, cư dân Đồng Nai nối tiếp truyền
thống lập làng cư trú trên sườn đồi gò đất đỏ bazan màu mỡ và thoáng
mát ven các dòng chảy. Có những khu vực quần cư lớn mà quy mô
từng “làng cổ” không thua diện tích một làng Việt hiện đại (1-3ha)
nằm xung quanh Mộ Cự thạch Hàng Gòn; ví như, quần thể 7 di chỉ do
E.Saurin phát hiện trong khu Đồn điền cao su Hàng Gòn (quan trọng
nhất là di chỉ Hàng Gòn 1 - Núi Gốm phát hiện 4 khuôn đúc đồng có
niên đại C14 rất xưa: 3.950 ± 250 cách ngày nay) (H2); quần thể di tích
thuộc địa phận Xuân Phú - Xuân Trường - Xuân Bình (Bình Xuân, Đồi
Mít, Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập Thành, Sông Nhạn...) với
niên biểu chung khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II trước Công nguyên.
14
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Trong thời đại sơ kỳ đồ Sắt, bên cạnh các làng cư trú làm nông, săn
bắn, hái lượm cổ truyền, đã xuất hiện các loại hình di tích đặc trưng
vùng Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ với các trầm tích văn hóa bản
xứ đã đưa ra ánh sáng khoa học nhiều di sản quý báu liên quan đến phát
minh kỹ nghệ tiên tiến mang tính thời đại - thuật luyện rèn sắt và ứng
dụng thành quả của tiến bộ kỹ thuật này trong thực tiễn sản xuất, chiến
đấu truyền thống, khởi đầu từ giữa Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.
Đó là các di chỉ - xưởng đúc đồng rèn sắt - mộ thổ táng truyền thống và
các nghĩa trang chuyên dùng quan tài bằng chum vò gốm chôn người
chết ở Suối Chồn, Dầu Giây, Phú Hòa (C14: 2.590 ± 240, 2.400 ± 140
cách ngày nay), Hàng Gòn 9 (C14: 2.300, 2.190, 2.100 ± 150 cách
ngày nay) chứa đựng các sưu tập di vật nội địa và ngoại nhập giàu có
và phong phú về
lượng loại bằng
đá (rìu - cuốc,
đục, dao gặt, bàn
mài, chày nghiền,
bùa đeo, khuôn
đúc sa thạch,
vòng tay, khuyên
tai hai đầu thú,
hạt chuỗi gia
công tinh xảo từ
nhiều
khoáng
chất), thủy tinh
(vòng
tay,
khuyên tai ba
mấu, hạt chuỗi),
gốm và đất nung
(dọi se sợi, bi,
quả cân, đồ
đựng), đồng (rìu
lưỡi trũng, chậu,
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
15
vòng, lục lạc, lá đồng), sắt (thuổng, liềm, dao, kiếm, vòng và nhẫn),
quý kim (chuỗi vàng, hoa tai đồng mạ vàng), di tồn hữu cơ (xương vụn,
than tro, nhựa, da, sò biển)... (H3-4).
Các “Cánh đồng chum” dày đặc vùng Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ (Suối Chồn, Dầu Giây, Hàng Gòn 9, Phú Hòa) hình thành một
cụm di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa bản địa hội tụ nhờ giao lưu
với nhiều tố chất văn minh ngoại nhập mà nổi nét nhất đến từ văn minh
Sa Huỳnh vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ và văn minh Ấn Độ cổ
từ Tây Phương Thiên Trúc. Cùng với cả cụm di tích độc đáo này, sự có
mặt của kho tàng Long Giao cũng minh định tiến trình giao lưu và hội
nhập văn hóa liên vùng và ghi dấu một “tầm cao” mới của cả miền này
thời sơ kỳ đồ Sắt. Với những di sản bản địa được tìm thấy (rìu - cuốc
đá, gốm thô, thẻ đeo dạng “bùa”, tượng động vật bằng đồng tạo hình
con “trút” (Manis javanica) nặng tới 3,4kg...) (H4), cùng hàng trăm vũ
khí bằng đồng biến cải “tiền mẫu” văn minh Trung Hoa kiểu “qua” (Ko
- Halberts) nhưng lại mang trên mình hoa văn trang trí theo “phong
cách Đông Sơn” Việt cổ (Phạm Đức Mạnh, 1985).
16
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Phát hiện kho tàng Long Giao nằm trong địa bàn quy tụ cụm di
tích tiêu biểu nhất văn minh Đồng Nai thời sơ Sắt - những “cánh đồng
chum” quây quần xung quanh mộ Cự thạch Hàng Gòn mà E.Saurin
(1973) tin chắc về “quan hệ họ hàng giữa chúng” trên những cánh rừng
già nhiệt đới xen cắt nhiều sông suối với tiềm năng lâm sản “cung ứng
vô tận cho đời sống săn bắn và lượm hái tiền sử” (Fontaine, H. 1972)
và những dải đồi gò đất đỏ bazan phong hóa “ở một trong những vùng
đất phì nhiêu nhất Đông Nam Á” (Bellwood, P. 1978) - một vùng đất
có nhiều công cụ sản xuất và khí giới sắt, nhiều đồ trang sức lộng lẫy,
có mộ đá đồ sộ và mộ chum dày đặc, có tượng đồng hình thú quý hiếm,
có vũ khí đồng “kiểu Hoa Hạ” và trống đồng “kiểu Đông Sơn” quyền
uy xứng danh một trung tâm sinh tụ và trung tâm tinh thần một thời
vang bóng của người cổ Đồng Nai. Và, các sưu tập trống đồng Việt cổ
ở Đông Nam Bộ xung quanh mộ Cự thạch Hàng Gòn cũng là những
dấu hiệu đầu tiên về sự hình thành và lớn lên của cơ cấu quyền lực tối
cao, vượt lên trên đội ngũ thủ lĩnh tiểu vùng có trang bị vũ khí kiểu qua
đồng của cộng đồng tộc người bản xứ cũng là những hiện tượng Đồng
Nai trong lịch sử thăng trầm của văn hóa và văn minh Đông Nam Á.
Những dấu tích hoạt động của người Đồng Nai xưa lược ghi trên
chính là hệ thống căn bản dẫn liệu khảo cổ học quan trọng nhất hiện
biết trên tiểu vùng đất đỏ bazan phong hóa Long Khánh, Xuân Lộc,
Cẩm Mỹ trong nền cảnh chung văn hóa Kim khí Đông Nam Bộ. Đó
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
17
cũng chính là các dẫn liệu quan hệ đến cơ sở văn hóa kỹ thuật (Techno
- Cultural basis) hay bức phông văn hóa kỹ thuật (Techno - Cultural
backdrop) của quần thể công trình kiến trúc Cự thạch đặc sắc và “độc
nhất vô nhị” của miền văn hóa này từ tiền sử (H5).
18
DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
MỘ CỰ THẠCH HÀNG GÒN
Phần thứ II
CÁC DI TÍCH VĂN HÓA CỰ THẠCH TRÊN VÙNG
ĐẤT ĐỎ LONG KHÁNH, XUÂN LỘC, CẨM MỸ
Các di tích Cự thạch đầu tiên trên miền đất
đỏ bazan Đông Nam Bộ thoạt đầu mang tên
Xuân Lộc, vì khi mới được phát hiện, chúng
nằm trong cương vực Đồn điền Cao su Xuân
Lộc (Société des plantations d'Hévens de Xuân
Lộc), thuộc địa phận xã Xuân Lộc, tổng Bình
Lâm Thượng, tỉnh Biên Hòa, ngày nay thuộc
ấp Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, thành phố Long
Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Chương I.
DI TÍCH CỰ THẠCH HÀNG GÒN I (7A)
1. Phát hiện ban đầu
Đầu năm 1927, trong lúc đang chỉ huy thi công tuyến đường từ
Xuân Lộc đi Bà Rịa (nay là Quốc lộ 56), viên kỹ sư cầu đường người
Pháp Jean Bouchot đã được ông Mercier báo cho biết có các tảng đá
lớn hình thù rất kỳ lạ dựng ven lộ trình này và dường như chúng được
chôn sâu từ lâu đời trong lòng đất đỏ thuộc Đồn điền do ông William
Bazé (cha nuôi của vua Bảo Đại) làm Giám đốc. Cột đá lớn đứng thẳng
dưới tán cây cổ thụ đã từ lâu được cư dân sở tại coi như “một thạch
đài huyền hoặc”, họ kính cẩn gọi là “Ông Đá” (Monsier le Rocher)
và dựng một miếu thờ nhỏ bên cạnh “Ông Đá” về phía Đông. Vốn là
“Thông tín viên” của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO: École
francaise d'Extrême - Orient), Jean Bouchot nhận được ủy nhiệm là
“đại biểu” của tổ chức khoa học này để tiến hành các cuộc khai quật
khẩn cấp ở đây cùng với các nhân công vốn là tội hình do chính viên
Toàn quyền Pháp ở Nam Kỳ khi đó cung ứng.
2. Khai quật
Cuộc khai quật được khởi công từ ngày 14/4-16/5/1927. J.Bouchot
đã cho đào xung quanh “Ông Đá” một hố rộng gần tròn có lòng
 







Các ý kiến mới nhất